(SeaPRwire) –   Các đạo diễn Christopher Nolan và Alfred Hitchcock không có nhiều điểm chung – phong cách làm phim rất khác nhau, thuộc những thời đại khác nhau, kể những câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, trong thời gian 5 tháng đầu năm 2022 khi Nolan quay bộ phim bom tấn Oppenheimer, anh thấy rằng tác phẩm của Hitchcock lại nổi lên nhiều hơn một lần – cụ thể là cảnh kinh điển trong phim Psycho khi Anthony Perkins đâm bất ngờ Janet Leigh khi cô tắm.

Cảnh đó rất tàn nhẫn, nhưng sau khi hỗn loạn kết thúc, mọi thứ lại trở nên trật tự. Perkins rửa xác xuống dưới vòi sen, bọc thi thể lại rồi đặt vào cốp xe ô tô mà anh ta cố chìm xuống đầm lầy. Nhưng khi nửa đường, xe lại dừng lại, phần đuôi vẫn nổi lên mặt nước.

[“Perkins] trông lo lắng,” Nolan nói trong cuộc trò chuyện tại Thành phố New York vào đầu tháng 1. “Và bạn cũng bắt đầu lo lắng theo. Làm sao một vụ giết người lại chuyển sang tôi lo lắng rằng gã che giấu vụ giết người sẽ bị bắt?”

Câu trả lời nằm ở điều mà Nolan gọi là “góc nhìn ma thuật của điện ảnh”, khả năng của máy quay làm cho khán giả lập tức chìm đắm trong trải nghiệm của những người trên màn ảnh đến nỗi chúng ta cảm nhận được những gì họ cảm nhận – ủng hộ những gì họ làm – ngay cả khi chúng ta không muốn. Rất nhiều điều đó cần thiết trong Oppenheimer, bộ phim tiểu sử của Nolan về cuộc đời của , người đứng đầu – chương trình chính phủ Mỹ phát triển bom nguyên tử đã được ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào cuối Thế chiến thứ hai. Công việc của Oppenheimer, không giống vụ giết người trong Psycho, đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người, không chỉ một mạng sống.

Do đó, Nolan đã thực hiện nhiều bước để đảm bảo rằng chúng ta vẫn ở phía Oppenheimer. Anh viết hướng dẫn trên sân khấu trong kịch bản bằng ngôi thứ nhất – không phải “Oppenheimer bước vào phòng” mà là “Tôi bước vào phòng”, để giúp Murphy, người được đề cử giải Oscar cho vai diễn Oppenheimer, cảm thấy trung tâm hơn trong cảnh quay, và giúp khán giả cảm nhận được điều đó. Máy quay cũng đứng gần Murphy hơn so với các nhân vật khác, theo lời Nolan. Bộ phim mở đầu và kết thúc bằng những cảnh quay giống hệt nhau – khuôn mặt Murphy đóng mắt.

Cillian Murphy trong vai J. Robert Oppenheimer trong Oppenheimer

Kết quả không chỉ là một bộ phim đã thu về hơn 1 tỷ USD trên toàn cầu kể từ khi ra mắt vào tháng 7, không chỉ là một bộ phim giành được 13 đề cử Oscar và 1 giải thưởng. Kết quả còn là một bộ phim đã làm sôi lại cuộc thảo luận toàn cầu về việc tồn tại của vũ khí hạt nhân và vai trò của chúng trong việc vừa duy trì hòa bình vừa đe dọa hòa bình trong 80 năm qua; về sự giao thoa giữa chính trị và khoa học – với chính phủ Mỹ dẫn dắt và tài trợ cho việc phát minh ra bom nguyên tử và các nước khác noi theo; về những nguy cơ khi phát triển công nghệ mới – như AI – có thể thoát khỏi sự kiểm soát của con người.

“Ý tưởng về chiến tranh hạt nhân trước đây chỉ giới hạn ở Mỹ và Nga,” Giáo sư lịch sử khoa học tại Đại học Harvard cho biết. “Bây giờ, ngay cả Bắc Triều Tiên cũng có bom.”

Sự lan tràn nguy hiểm đó của vũ khí tồi tệ nhất do con người tạo ra là điều Nolan suy nghĩ rất nhiều khi làm Oppenheimer, một câu chuyện điện ảnh đề cập đến chẳng là gì khác ngoài khả năng tự sát hạt nhân của loài người – hoặc nếu thiên thần tốt của chúng ta chiến thắng, có thể cứu chúng ta khỏi sự hủy diệt.

“Vũ khí hạt nhân thuộc loại có sức hủy diệt tuyệt đối nhất đối với loài người,” Nolan nói. “Điều đó nói lên tầm quan trọng tại sao tôi muốn làm một bộ phim về Dự án Manhattan. Những [nhà khoa học] này là những người thông minh nhất trên hành tinh; họ hoàn toàn biết chính xác những gì sẽ xảy ra.”


Bộ phim Oppenheimer bắt nguồn từ một cuốn sách xuất bản năm 2005 – cuốn , do Kai Bird và nhà sử học quá cố Martin J. Sherwin biên soạn. Cuốn sách bắt đầu từ lễ tang của Oppenheimer rồi quay ngược trở lại thời thơ ấu, trước khi kể tiếp qua những năm trước chiến tranh và quá trình phát triển bom nguyên tử. Kịch bản do chính Nolan viết đã bỏ qua phần giới thiệu dài và mở đầu vào năm 1926, khi Oppenheimer đang học vật lý tại Đại học Cambridge; sau đó anh trở lại Caltech dạy vật lý lý thuyết cho đến năm 1942, khi Đại tá Leslie Groves của quân đội Mỹ (do Matt Damon thủ vai) mời anh lãnh đạo Dự án Manhattan.

Thêm từ TIME

Khi bắt đầu xây dựng cấu trúc mới cho câu chuyện trên màn ảnh, Nolan có rất nhiều quyền tự do với cuốn American Prometheus. “Khi bắt đầu khám phá, bạn sẽ nhận ra nó không hoàn toàn tuần tự thời gian và các chương được sắp xếp rất khéo léo theo chủ đề,” ông nói. “Nó mang tính chất và có một dây chuyền thời gian bên dưới.” Nolan đọc cuốn sách 720 trang một lần, mua bản quyền chuyển thể thành phim, đọc lại hai lần nữa, lần này ghi chép kỹ lưỡng.

“Tôi để nó hấp thụ từ từ vào trí tưởng tượng của mình,” ông nói. “Gần như cách chúng ta hấp thụ một câu chuyện hư cấu.”

Bài viết được cung cấp bởi nhà cung cấp nội dung bên thứ ba. SeaPRwire (https://www.seaprwire.com/) không đưa ra bảo đảm hoặc tuyên bố liên quan đến điều đó.

Lĩnh vực: Tin nổi bật, Tin tức hàng ngày

SeaPRwire cung cấp phát hành thông cáo báo chí thời gian thực cho các công ty và tổ chức, tiếp cận hơn 6.500 cửa hàng truyền thông, 86.000 biên tập viên và nhà báo, và 3,5 triệu máy tính để bàn chuyên nghiệp tại 90 quốc gia. SeaPRwire hỗ trợ phân phối thông cáo báo chí bằng tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Giản thể, tiếng Trung Truyền thống, tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Indonesia, tiếng Mã Lai, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và các ngôn ngữ khác. 

Cillian Murphy (vai J. Robert Oppenheimer) và Christopher Nolan trên phim trường Oppenheimer

Sự chuẩn bị kỹ lưỡng đó đã được đền đáp, bởi kỹ năng kể chuyện của Nolan giúp bộ phim di chuyển hiệu quả qua nhiều cột mốc quan trọng – từ quá trình phát triển bom kéo dài 3 năm tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos ở New Mexico; đến việc quân đội Mỹ giám sát quan điểm chính trị của Oppenheimer; đến phiên điều trần hậu chiến do Lewis Strauss (do Robert Downey Jr. thủ vai), người đứng đầu Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Mỹ, tổ chức nhằm tước bỏ quyền an ninh của Oppenheimer và do đó ảnh hưởng của ông. Bộ phim cũng khám phá sâu hơn về cảm giác tội lỗi sau khi bom được ném xuống của Oppenheimer; cũng